Nguyên nhân của bệnh không lây nhiễm

Cập nhật: 5/1/2019 - Lượt xem: 249

Đối với các BKLN thường không xác định được nguyên nhân cụ thể mà chỉ có một nhóm yếu tố nguy cơ góp phần làm bệnh phát triển gồm: Yếu tố về hành vi lối sống như hút thuốc lá; lạm dùng rượu, bia; dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực. Các yếu tố nguy cơ về hành vi sẽ dẫn tới các biến đổi về sinh lý/ chuyển hóa bao gồm: THA, thừa cân béo phì, tăng đường máu và rối loạn lipid máu và hậu quả là các bệnh mạch vành tim, đột quỵ, đái tháo đường, ung thư… Sâu xa hơn, nguyên nhân gốc rễ của sự gia tăng các yếu tố nguy cơ trên liên quan đến các yếu tố môi trường (kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tự nhiên…).

Dưới đây là một số yếu tố nguy cơ chung của các bệnh ung thư, tim mạch, ĐTĐ, bệnh phổi mạn tính:

  • Hút thuốc lá: Hút thuốc lá ước tính là nguyên nhân của 71% số trường hợp ung thư phổi; 42% số trường hợp bệnh phổi mạn tính; và 10% các bệnh tim mạch. Hút thuốc lá còn là yếu tố nguy cơ của một số bệnh nhiễm trùng như lao phổi và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới. Nhai sợi thuốc có thể gây ra ung thư khoang miệng, THA, các bệnh tim mạch và một số bệnh lý khác. Thuốc lá không những gây tác hại cho người trực tiếp hút mà con gây tác hại cho những người hút thụ động. Trên thế giới mỗi năm có khoảng 6 triệu người tử vong do thuốc lá, bao gồm cả do hút thuốc thụ động. Đến năm 2020 con số này sẽ tăng lên đến 7,5 triệu người, chiếm khoảng 10% tổng số tử vong toàn cầu.

  • Sử dụng rượu, bia ở mức có hại: Rượu, bia và các đồ uống có cồn khác là chất gây nghiện, vì vậy Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo để đảm bảo cho sức khỏe tốt nhất là không uống rượu, bia. Sử dụng rượu bia ở mức nguy cơ cao hơn gồm có uống ở mức có hại và ở mức nguy hiểm. Sử dụng rượu,bia ở mức có hại là nguyên nhân chính hoặc là một trong những nguyên nhân gây ra hơn 200 bệnh tật và chấn thương theo phân loại bệnh tật quốc tế ICD10. Năm 2012 có 5,9% số trường hợp tử vong toàn cầu, tương đương 3,3 triệu người là do sử dụng rượu, bia, trong đó phần lớn là hậu quả của các nhóm bệnh không lây nhiễm gồm: tim mạch, đái tháo đường (33,4%), 9 loại bệnh ung thư (12,5%), bệnh về tiêu hóa ( 16,2%), chấn thương (25,8%) và rối loạn phát triển bào thai và các biến chứng sin non do rượu (0,1%). Sử dụng rượu, bia ở mức có hại là nguyên nhân của 50% trường hợp tử vong do xơ gan, của 22%  đến 25% trường hợp tử vong do ung thư răng miệng, hầu họng, thanh quản hay thực quản, 30% các trường hợp tử vong vì viêm tụy. Về gánh nặng bệnh tật, năm 2012 có 5,1% số năm sống hiệu chỉnh do bệnh tật (DAILYs) (tương đương với 139 triệu năm sống) mất đi do sử dụng rượu, bia. Khác với tử vong, rối loạn tâm thần kinh là nhóm bệnh gây ảnh hưởng nặng nhất (24,6%), tiếp đến là chấn thương (30,7%), bệnh tim mạch và đái tháo đường (15,5%), ung thư (8,6%), chết chu sinh (6,8%) và các bệnh không lây nhiễm (15,5%).

  • Dinh dưỡng không hợp lý: Ăn ít rau và trái cây được cho là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Ăn ít rau và trái cây ước tính là nguyên nhân của 19% số ung thư dạ dày ruột, 31% các bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ và 11% số trường hợp đột quỵ. Ăn ít nhất 400g rau và trái cây mỗi ngày giúp phòng chống các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng như các bệnh tim mạch, ung thư dạ dày và ung thư đại trực tràng. Các bằng chứng khoa học cho thấy ăn nhiều thức ăn giàu năng lượng, ví dụ như thực phẩm chế biến sẵn có nhiều chất béo và đường, làm tăng nguy cơ béo phì và tác hại cũng giống như ăn ít rau và trái cây. Ăn thực phẩm có nhiều chất béo no (có nhiều trong mỡ động vật) và chất béo chuyển hóa (có thể có trong thực phẩm chế biến sẵn), làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và bệnh ĐTĐ. Lượng muối tiêu thụ hàng ngày là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức huyết áp cũng như nguy cơ các bệnh tim mạch. Ăn nhiều muối là nguy cơ của THA, đột quỵ, ung thư dạ dày, suy thận, loãng xương và một số bệnh tim mạch khác.

                                   

                           
                                        Ăn ít nhất 400 rau và trái cây mỗi ngày giúp phòng chống bệnh không lây nhiễm

  • Ít hoạt động thể lực: Ít hoạt động thể lực là yếu tố nguy cơ đứng hàng thứ tư của tử vong. Một số người ít vận động sẽ tăng từ 20 – 30% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân nếu so sánh với một người vận động cường độ vừa phải ít nhất 30 phút mỗi ngày trong hầu hết các ngày của tuần. Nếu hoạt động thể lực mức độ vừa phải 150 phút/ tuần ước tính có thể giảm 30% nguy cơ bệnh tim thiếu máu cục bộ, giảm 27% nguy cơ ĐTĐ, và giảm 21 – 25% nguy cơ ung thư vú và ung thư đại trực tràng. Hoạt động thể lực còn làm giảm nguy cơ đột quỵ ,THA, trầm cảm, và giúp kiểm soát cân nặng.

 
Hoạt động thể lực ít nhất 30 phút mỗi ngày là một những trong những cách phòng chống các BKLN


Mặc dù rất nguy hiểm nhưng BKLN có thể phòng chống hiệu quả thông qua kiểm soát các yếu tố nguy cơ (nguyên nhân) có thể phòng tránh được như hút thuốc lá, dinh dưỡng không hợp lý, ít hoạt động thể lực và lạm dụng rượu bia. Bằng chứng khoa học cho thấy nếu loại trừ được các yếu tố nguy cơ này sẽ phòng được ít nhất 80% các bệnh tim mạch, đột quỵ, ĐTĐ týp II và trên 40% các bệnh ung thư. Sâu xa hơn, chúng ta cần phải giải quyết các yếu tố nguy cơ BKLN bao gồm vấn đè toàn cầu hóa, đô thị hóa, già hóa, nghèo đói, thiếu kiến thức, phong tục tập quán lạc hậu…

Các yếu tố nguy cơ khác:

Ngoài 4 hành vi nguy cơ phổ biến có thể thay đổi được ở trên, còn những yếu tố nguy cơ quan trọng khác cần được kiểm soát hiệu quả để dự phòng các BKLN, đặc biệt là đối với dự phòng bệnh ung thư và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính:

Nhiễm trùng mạn tính do một số loại vi rút như vi rút viêm gan B, C (ung thư gan), vi rút HPV (gây ung thư cổ tử cung…).

Có nhiều yếu tố liên quan đến ô nhiễm môi trường, thực phẩm và nghề nghiệp như asbestos, benzene, arsenic, chất phóng xạ… là các tác nhân làm tăng nguy cơ mắc một số loại ung thư. Ước tính có khoảng 50 yếu tố liên quan đến công việc và nghề nghiệp là tác nhân gây ung thư.

Bệnh cạnh nguy cơ do hút thuốc lá, ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời, bụi và hóa chất nghề nghiệp,viêm nhiễm đường hô hấp dưới thường xuyên ở trẻ em là những tác nhân quan trọng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh phổi mạn tính.

Nguồn: trích từ cuốn Chế độ dinh dưỡng lành mạnh phòng chống bệnh không lây nhiễm - Viện Dinh dưỡng 2017