Biến chứng thần kinh hậu COVID-19: Các chứng bệnh cần nắm bắt để phòng trị

Cập nhật: 3/13/2022 - Lượt xem: 115

Mắc COVID-19 trở nên khỏe hơn chỉ trong vòng vài tuần kể từ khi nhiễm bệnh, tuy nhiên một vài người lại gặp phải các tình trạng hậu COVID-19. Mắc COVID-19 có thể khiến kích thước não giảm, làm giảm chất xám ở những vùng kiểm soát cảm xúc và trí nhớ.

COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra với biểu hiện chủ yếu là hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng. Tuy nhiên, di chứng thần kinh hậu COVID-19 được ghi nhận nhiều hơn với các biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân COVID-19 như là nhức đầu, chóng mặt, thay đổi ý thức, rối loạn khứu giác và vị giác, co giật và đột quỵ.

Những bất thường ở não bộ sau mắc COVID-19

Ngày 7/3, trên tạp chí Nature, kết quả nghiên cứu đã được thẩm định của Đại học Oxford công bố bằng chứng rõ ràng chứng tỏ COVID-19 liên quan đến những bất thường ở não bộ, kể cả ở những người mắc bệnh nhưng không phải nhập viện.

Đây là công trình đầu tiên sử dụng dữ liệu quét não (chụp cộng hưởng từ MRI) của bệnh nhân F0 trước khi họ nhiễm virus và vài tháng sau đó. Do đó, các chuyên gia thần kinh không tham gia vào nghiên cứu đánh giá rất cao phát hiện này.

Hội chứng sương mù não hậu COVID

Các nghiên cứu gần đây phát hiện, một số người từng mắc COVID-19 gặp phải hội chứng sương mù não, bao gồm các triệu chứng kém tập trung, dễ bị phân tâm, tốc độ xử lý thông tin kém và trí nhớ giảm.

Di chứng hậu COVID-19 được ghi nhận ảnh hưởng đến thần kinh người mắc bệnh.

Ngoài ra, những người tham gia còn trải qua một số bài kiểm tra tiêu chuẩn về độ nhạy bén tinh thần. Kết quả cho thấy, nhóm mắc COVID-19 có mức độ suy giảm nhận thức nhiều hơn. Theo một số bằng chứng, sự suy giảm này tương quan với sự thay đổi trong cấu trúc não liên quan đến tư duy và các kỹ năng tinh thần khác.

Được biết, các nhà khoa học sẽ tiếp tục đánh giá hình ảnh và kiểm tra những người tham gia nghiên cứu này trong 1 hoặc 2 năm tới.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia khác cho rằng, thử nghiệm này vẫn khá thô sơ và rất khó để đánh giá liệu chất xám và tổn thương mô ở bệnh nhân COVID-19 có ảnh hưởng kỹ năng, khả năng nhận thức của họ hay không.

Tiến sĩ Joanna Hellmuth, nhà thần kinh học (Đại học California, San Francisco), người đang nghiên cứu các triệu chứng hậu COVID-19 cũng cho biết, không rõ điều gì có thể đã gây ra những thay đổi về não bộ được thấy trong nghiên cứu này. Bà lưu ý, những thay đổi ở não trung bình là "nhỏ" và không có nghĩa là những người mắc COVID-19 nhẹ phải đối mặt với tình trạng “thoái hóa não”.

Các chuyên gia nhận định giá trị lớn nhất của nghiên cứu là chứng minh có điều gì đó đã xảy ra bên trong não bộ những người mắc COVID-19. Nhưng nó khá mơ hồ và khó đo lường. Nhiệm vụ là xem xét nhận thức, triệu chứng tâm thần, hành vi của F0 để tìm hiểu phát hiện này có ý nghĩa gì với người bệnh.

Một số biến chứng thần kinh do COVID-19 có thể xảy ra:

1. Rối loạn chức năng thần kinh

Ở bệnh nhân COVID-19, rối loạn chức năng thần kinh đã được báo cáo là các triệu chứng ban đầu thường gặp, xảy ra ở hơn 80% bệnh nhân. Những triệu chứng này có thể là biểu hiện ban đầu của COVID-19 và có thể xảy ra khi không có triệu chứng ngạt mũi hay chảy nước mũi. Tuy nhiên, hiếm khi các triệu chứng này là biểu hiện lâm sàng duy nhất của bệnh nhân nhiễm virus SARS-CoV-2 gây ra.

Khi khám nghiệm tử thi của bệnh nhân tử vong do COVID-19 phát hiện thấy tình trạng viêm và tổn thương dọc trục ở khứu giác nhưng không thể xác định liệu đây có phải là tổn thương do virus SARS-CoV-2 trực tiếp gây ra hay không. Trong một loạt bệnh nhân COVID-19 được thống kê cho thấy có khoảng 44% bệnh nhân bị ảnh hưởng đã phục hồi chức năng khứu giác trong vòng 8 ngày sau khi hết các triệu chứng khác của bệnh.

2. Bệnh não

Ở những bệnh nhân COVID-19 nặng, bệnh não thường gặp hơn cả. Tình trạng hạ oxy máu gặp phổ biến ở bệnh nhân COVID-19 nặng, có thể đóng vai trò nào đó ở nhiều bệnh nhân, cũng như rối loạn chuyển hóa.

Ở một số bệnh nhân đã tử vong do không chống chọi được với COVID-19 và bị bệnh não trước khi chết cho thấy tổn thương thiếu máu cục bộ cấp tính ở tất cả các bệnh nhân và bệnh nhân có bệnh lý thần kinh mãn tính như bệnh Alzheimer, xơ cứng động mạch.

Ở bệnh nhân COVID-19, các biểu hiện viêm não có thể gặp như mê sảng, kích động, có bệnh nhân lại buồn ngủ và giảm ý thức. Các triệu chứng về tủy sống như tăng phản xạ, phản ứng của cơ kéo dài là phổ biến, triệu chứng co giật cũng được mô tả.

3. Viêm tủy não lan tỏa cấp tính và viêm tủy

Viêm não lan tỏa là một hội chứng khử myelin đa ổ, thường xảy ra vài tuần sau khi bị nhiễm trùng, thường có các biểu hiện là các triệu chứng thần kinh khu trú, kèm theo bệnh não.

Một vài trường hợp bệnh nhân COVID-19 có tình trạng viêm não tủy lan tỏa cấp tính đã được ghi nhận. Có bệnh nhân xuất hiện chứng khó nuốt, rối loạn tiêu hóa và bệnh não ở ngày thứ 9 sau khi bắt đầu với triệu chứng nhức đầu và đau cơ. Một bệnh nhân khác có biểu hiện co giật và giảm ý thức. Trên phim MRI, các bệnh nhân đều có dịch não tủy bình thường và cường độ tín hiệu cao, là các dấu hiệu điển hình của viêm não tủy lan tỏa cấp tính. Một bệnh nhân khác xuất hiện tình trạng liệt mềm cấp tính với biểu hiện đại tiện không tự chủ.

Viêm não và viêm tủy lan tỏa cấp tính thường được coi là biến chứng sau nhiễm trùng, được điều trị bằng thuốc corticosteroid hoặc các liệu pháp miễn dịch khác.

4. Hội chứng Guillain-Barré

Đây là bệnh viêm đa cơ cấp tính đặc trưng bởi tình trạng tiến triển nhanh, đối xứng, khó cử động khi thăm khám, kèm theo các triệu chứng về cảm giác ở một số bệnh nhân.

Các bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng thần kinh bắt đầu ở ngày thứ 7 của bệnh sau khi có các biểu hiện về hô hấp. Một số bệnh nhân bị yếu cả bốn chi, có hoặc không mất cảm giác. Cũng có bệnh nhân chỉ bị yếu chân, có bệnh nhân bị chứng loạn cảm chi dưới. Một số bệnh nhân khác lại bị tổn thương dây thần kinh mặt, khó nuốt.

5. Đột quỵ

Ở những bệnh nhân COVID-19, đột quỵ không thường xuyên xảy ra. Tỷ lệ đột quỵ do thiếu máu cục bộ liên quan đến COVID-19 ở bệnh nhân nhập viện dao động từ 0,4 - 2,7%, trong khi tỷ lệ xuất huyết nội sọ từ 0,3 - 0,9%. Tỷ lệ các bệnh mạch máu não liên quan đến COVID-19 phần lớn được tính toán dựa trên các nghiên cứu thuần tập quan sát các bệnh nhân nhập viện với COVID-19 ở các vùng dịch lớn khác nhau trên thế giới.

Nguy cơ đột quỵ có thể thay đổi tùy theo mức độ nghiêm trọng của COVID-19. Những bệnh nhân nhẹ có nguy cơ đột quỵ < 1%, nhưng với những bệnh nhân được chăm sóc đặc biệt thì nguy cơ này có thể lên tới 6%.

Thông thường, đột quỵ xảy ra vào thời điểm từ 1 - 3 tuần sau khi khởi phát các triệu chứng COVID-19. Tuy nhiên, đột quỵ cũng có thể là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc nhập viện của một số bệnh nhân nhiễm COVID-19.

Nguồn: Báo Sức khỏe & đời sống